Chủ trương mở rộng kết nối mạng lưới camera giám sát từ các hộ dân và khu dân cư về trung tâm điều hành của Công an các xã, phường của Bộ Công An đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của công luận Việt Nam trong những ngày gần đây.
Đây không đơn thuần là một giải pháp kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực quản lý trật tự xã hội, mà còn là một phép thử về vấn đề quyền tự do cá nhân và đặc biệt là an ninh quốc gia trong kỷ nguyên chiến tranh thông tin.
Nhìn từ góc độ quản trị, theo giới chuyên gia việc tận dụng hàng triệu “mắt thần” sẵn có trong dân giúp ngành Công an hình thành một ma trận giám sát khổng lồ miễn phí, để hỗ trợ cho công tác truy xét tội phạm và quản lý người dân.
Tuy nhiên, nỗi lo ngại về việc xâm phạm đời tư khi Hiến pháp 2013 và Bộ luật Dân sự 2015 đều khẳng định quyền bí mật đời tư của mọi công dân là bất khả xâm phạm.
Việc chia sẻ luồng dữ liệu trực tiếp từ gia đình của cá nhân về trung tâm giám sát An ninh của Công an cấp xã- phường tập trung đang đặt ra câu hỏi về ranh giới của sự giám sát.
Dù lộ trình triển khai sẽ bắt đầu từ năm 2028 theo dự thảo, Bộ Công an nhấn mạnh vào cơ chế thỏa thuận tự nguyện. Nhưng áp lực từ việc quản lý theo mô hình “công an trị” hiện nay tại các địa phương lấy gì để đảm bảo tính “tự nguyện” này.
Quan trọng hơn, khi hạ tầng bảo mật tại Việt Nam vẫn có những lỗ hổng sơ đẳng. Bài học nhãn tiền từ các tổ chức an ninh quốc tế tháng 3/2026 về tình hình xung đột tại Iran là lời cảnh báo nhãn tiền cho những quốc gia đang sử dụng thiết bị giám sát rẻ tiền từ Trung quốc.
Việc tình báo phương Tây khai thác thành công hệ thống camera giao thông và giám sát xã hội tại thủ đô Tehran, để từ đó thực hiện các cuộc tấn công chính xác và tiêu diệt hàng loạt lãnh đạo cấp cao của Iran là minh chứng rõ nhất.
Những thiết bị IoT tưởng chừng vô hại như camera của các hãng Hikvision hay Dahua của Trung quốc, vốn chiếm thị phần áp đảo tại Việt Nam, lại tiềm ẩn những nguy cơ từ xa.
Khi hàng triệu thiết bị bảo mật kém này được kết nối về một đầu mối tập trung ở cấp xã, Bộ Công an vô tình tạo ra một mục tiêu khổng lồ cho các cơ quan tình báo nước ngoài.
Vẫn theo giới chuyên gia, nếu một khi bị chiếm quyền điều khiển, toàn bộ hệ thống giám sát của quốc gia có thể bị lợi dụng để thu thập thông tin tình báo, và đe dọa trực tiếp đến chủ quyền số và sự an toàn của các nhân vật trọng yếu của Đảng CSVN.
Cho dù, Bộ Công an chắc chắn sẽ không hề chủ quan trước những kịch bản nguy hiểm này. Song những cảnh báo về việc hơn 90% camera tại Việt Nam có máy chủ đặt tại nước ngoài là lời thừa nhận về nguy cơ cao bị can thiệp dữ liệu từ xa.
Chiến lược ưu tiên các giải pháp với máy chủ đặt trong nước và dữ liệu mã hóa đang được Bộ Công an đẩy mạnh như một nỗ lực nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào phần cứng ngoại nhập là nhưng minh chứng.
Thế nhưng, thách thức lớn nhất nằm ở năng lực thực thi tại cấp cơ sở tức công an xã và phường. Liệu trình độ chuyên môn và hạ tầng kỹ thuật tại đây có đủ sức để quản trị và bảo vệ kho dữ liệu khổng lồ trước các cuộc tấn công tinh vi mang tầm vóc quốc gia?
Để chủ trương này thực sự mang lại sự bình yên cho xã hội mà không trở thành “con ngựa thành Troy” trong kỹ thuật số, cần một sự phân tách tuyệt đối giữa hệ thống giám sát công cộng và các dữ liệu nhạy cảm.
Đồng thời, việc kết nối camera dân cư phải dựa trên nguyên tắc minh bạch, giới hạn vị trí ghi hình chỉ ở khu vực ngõ xóm, lối đi chung và có quy trình quản lý truy cập nghiêm ngặt.
Trong bối cảnh địa chính trị phức tạp như hiện nay, mạng lưới camera giám sát phải là lá chắn bảo vệ nhân dân, chứ để các thế lực bên ngoài xâm nhập và thao túng an ninh nội chính của đất nước.
Trà My – Thoibao.de










